ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC PHAOLÔ BÙI VĂN ĐỌC TRONG VAI TRÒ CHỦ TỊCH UỶ BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN TRỰC THUỘC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

06 / 03/ 2021, 06:03:21

 

Cách đây gần một năm, ngày 7-3-2018, cả Giáo Hội Việt Nam ngỡ ngàng khi nghe tin Đức Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc từ trần tại Rôma. Một bầu khí u ám phủ kín cả Tổng giáo phận Sài Gòn. Khuôn mặt của từng người trong cộng đồng Dân Chúa tại Tổng giáo phận in đậm nỗi đau thương. Vâng, đau lắm, đau vì người Cha chung ra đi mà không một lời giã từ; đau lắm, vì ngài nằm xuống mà không được một cái nắm tay để níu kéo giữ ngài lại; đau lắm, vì ngài từ giã cuộc đời không trên mảnh đất của bao nhiêu kỷ niệm của đời mục tử, mà lại là nơi đất khách quê người, cho dẫu nơi đó được gọi là thánh đô của Giáo hội Công giáo… và cứ ngỡ nỗi đau sẽ kéo dài mãi chẳng bao giờ nguôi. Nhà văn Dạ Vĩ Lan trong tác phẩm Tình muộn đã viết: “Thời gian gây cho ta những nỗi đau trong lòng, thì nhất định thời gian sẽ dần dần hàn gắn lại những vết thương đó”. Quả thật, nỗi đau mất người Cha chung như đang cạn dần, và hôm nay, kỷ niệm một năm ngày mất của Đức Tổng Phaolô, xin được ghi lại đôi dòng hồi tưởng về Đức Tổng với tư cách là Giám mục Chủ tịch của Uỷ ban Giáo lý Đức tin, không để khơi lại nỗi đau vì sự mất mát, nhưng để ghi nhớ về một con người đầy nhiệt huyết và khao khát cho sự phát triển nền thần học Việt Nam, với ước mong sao cho khát vọng đó luôn là động lực thúc đẩy Uỷ ban Giáo lý Đức tin phát triển và đạt được những thành tựu tốt đẹp

1. Ngược dòng thời gian

Vào năm 1980 lần đầu tiên các Đức Giám Mục Việt Nam trong hai miền Nam - Bắc mới chính thức gặp gỡ chung với nhau tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, được gọi là Đại hội Giám mục Việt Nam lần I. Trong lần Đại hội này, các Giám mục Việt Nam đã quy định cứ 3 năm sẽ tổ chức Đại hội một lần, và hàng năm có Hội nghị thường niên. Mỗi lần Đại hội, Hội đồng Giám mục sẽ bầu ra Ban thường vụ và các chủ tịch Uỷ ban Giám mục. Kể từ Đại hội lần I đến lần VII, Uỷ ban Giáo lý Đức tin chưa được thành lập, mãi đến Đại hội lần thứ VIII (2001-2004), Uỷ ban Giám mục về Giáo lý Đức tin mới được hình thành, và Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc được bầu làm chủ tịch Uỷ ban[1].

Nhiệm vụ chủ tịch Uỷ ban Giám mục về Giáo lý Đức tin được Đức Phaolô Bùi Văn Đọc tiếp tục đảm trách qua các nhiệm kỳ từ Đại hội lần IX (2004-2007) đến Đại hội lần XI (2010-2013). Đại Hội lần XII (2013-2016) Đức Phaolô thôi đảm trách nhiệm vụ chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin, để đảm nhận chức vụ Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Vào kỳ Đại Hội lần XIII (2016-2019), vì lý do sức khoẻ, Đức Phaolô thôi giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, và ngài được giao phó trở lại nhiệm vụ Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin (UBGLĐT).

2. Vị Giám mục Chủ tịch với công việc ban đầu của UBGLĐT

Khi nói đến Đức Tổng Phaolô Bùi Văn Đọc, các linh mục và các tu sĩ tại Việt Nam không thể không nghĩ đến dung mạo của một người mang đầy cốt cách “siêu thực”. Trong con người của ngài hầu như chỉ có một trăn trở duy nhất: làm thần học; và ngài được gọi như là một nhà thần học đúng nghĩa.

Với cốt cách như thế, khi nhận trách vụ lo cho Uỷ ban Giáo lý Đức tin, ngài liền chiêu mộ những con người thiện chí và có khả năng để vào Uỷ ban làm việc, ngài mời gọi tất cả các thành phần Dân Chúa, những ai có khả năng về triết học và thần học, đặc biệt là quý nữ tu. Ngài thực sự khao khát có những tài liệu thần học có giá trị, được khởi xuất từ những “yếu tố Việt Nam” để giúp giảng dạy trong các Đại chủng viện và Học viện thần học tại Việt Nam. Sự khao khát đó ngày đêm thôi thúc ngài.

Với lòng nhiệt thành, ngài đã bắt tay ngay vào công việc của một Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin. Trước tiên, ngài lưu ý đến công việc Huấn giáo tại Giáo Hội Việt Nam, ngài mong muốn cuốn Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo được chuyển sang Việt ngữ sớm hết sức có thể, để Giáo Hội tại Việt Nam có được nguồn tài liệu giáo lý quý giá bằng ngôn ngữ địa phương, hầu giúp các linh mục trong việc giảng dạy giáo lý phù hợp với việc canh tân của Công đồng Vaticanô II.

Việc dịch thuật cuốn Giáo lý cũng gặp nhiều sóng gió. Trước tiên là sự rạn nứt về mối tương giao giữa Đức cha Chủ tịch và cha Thư ký, do Đức cha Chủ tịch khao khát cuốn giáo lý phải được chuyển ngữ sớm, vì ngài thấy nhu cầu đối với Giáo hội thật cấp bách, nhưng cha Thư ký không thể nào đáp ứng theo đúng yêu cầu bởi nhiều lý do khách quan. Hai bên hình như thiếu sự cảm thông, để rồi cuối cùng, cha Thư ký xin rút khỏi Uỷ ban, để lại bao ngậm ngùi cho các thành viên, đặc biệt đối với Đức cha Phaolô. Vụ việc đã gây ra cho ngài nhiều đau khổ. Vì là một con người, tuy đầy ắp tình cảm nhưng không ủy mị, ngài đã đặt nỗi muộn phiền qua một bên, và cương quyết tìm mọi cách để việc chuyển ngữ cuốn Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo được hoàn thành theo như mong ước của Hội đồng Giám mục. Cuối cùng, việc chuyển ngữ cũng hoàn tất, bản dịch được gởi sang Tòa Thánh (Rôma) để xin chuẩn nhận, lúc này người ta đọc thấy trên gương mặt ngài hiện lên một niềm hân hoan, như người mẹ vừa hạ sinh đứa con đầu lòng sau bao ngày tháng mong đợi. Thế nhưng niềm vui chẳng kéo dài được bao lâu, bản dịch được Tòa Thánh gởi trả về với những nhận định thẳng thắn như gáo nước lạnh tạt vào mặt. Thật thất vọng và chua xót; lúc này các thành viên trong Ủy ban đều hiểu được tâm trạng cay đắng của Đức cha Chủ tịch. Tuy nhiên, với tính cương nghị và lòng nhiệt thành, một lần nữa ngài lại bắt tay vào công việc để bản dịch được hoàn hảo hơn. Và năm 2009, bản dịch cũng được Toà Thánh chuẩn nhận, tuy vẫn còn một số bất cập, nhưng dù sao, bản dịch này cũng đã mang lại niềm vui lớn lao cho Đức Tổng. Tôi còn nhớ nụ cười tươi nở trên khuôn mặt nhân hậu của ngài khi cầm trên tay cuốn sách được in ấn đẹp đẽ, lúc này thì dường như bao muộn phiền đã tan biến. Niềm hân hoan nối tiếp khi bản dịch cuốn Toát yếu Giáo lý ra đời, đáp ứng lòng mong đợi của toàn thể Dân Chúa tại Việt Nam.

3. Như người gieo trong gian nan

Công việc của Uỷ ban Giáo lý Đức tin thật nhiêu khê, bởi các thành viên của Uỷ ban không là những chuyên viên dành toàn thời gian cho công việc, phần nhiều là các linh mục, các giáo sư, vừa bề bộn với công việc dạy học, vừa bận rộn với các công việc mục vụ giáo xứ, hoặc của nhà dòng. Đứng trước hoàn cảnh như thế, Đức Tổng Phaolô đã cố gắng chỉnh đốn lại Uỷ ban, ngài phân chia các tổ trong Uỷ ban bao gồm: tổ Thần học, tổ Giáo lý và tổ Từ vựng. Công việc của các tổ được xác định một cách rõ ràng cụ thể. Với bản chất của một người không bao giờ để trí óc nghỉ ngơi, ngài luôn thôi thúc các tổ sớm có những thành quả cụ thể qua những công việc được giao.

Cho dẫu hoàn cảnh làm việc của các thành viên trong Uỷ ban không được thuận lợi, nhưng với sự nhắc nhở thường xuyên của Đức cha Chủ tịch, các tổ trong Uỷ ban cũng đã hoàn thành một số công trình đáng kể, làm hài lòng ngài, chẳng hạn như việc hiệu đính bản dịch Công đồng Vaticanô II của Ban Thần học (2012), đặc biệt, các tài liệu chuẩn bị cũng như tài liệu làm việc và văn kiện hậu đại hội Dân Chúa 2010; Forum Thần học 2012 với chủ đề: Giáo hội: nền tảng của việc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ; một số nghiên cứu thần học được công bố, chẳng hạn các bài viết về chủ đề Tân Phúc âm hoá, Thần học bối cảnh, v.v…; bên cạnh đó là tổ Giáo lý hoàn thành các công trình như: bản dịch tài liệu Hướng dẫn tổng quát việc dạy giáo lý của Bộ Giáo Sĩ 1997, để giúp các linh mục cũng như giáo lý viên trong việc giảng dạy giáo lý; Bản Hỏi thưa Giáo lý Hội Thánh Công giáo (2013), cuốn Giáo lý Hôn nhân (2004) và tổ chức các kỳ Đại hội Giáo lý Toàn quốc (2006-2017)…; Ban Từ vựng Công giáo cho ra đời cuốn Từ điển Công giáo (2016)… Hiểu được rằng, để hoàn thành các công việc trong Uỷ ban nhằm phục vụ Dân Chúa tại Việt Nam trong việc gìn giữ và phổ biến kho tàng đức tin không là chuyện đơn giản, nên Đức Tổng Phaolô đã cố gắng vượt lên những trì trệ cá nhân, ngài luôn đưa ra những yêu cầu rất cao để thúc đẩy đồng thời khích lệ các thành viên trong Uỷ ban nỗ lực không ngừng.

Trong vai trò là chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức Tổng Phaolô đã nỗ lực kiến tạo một bầu khí làm việc cởi mở giữa các thành viên. Ngài sẵn sàng lắng nghe các ý kiến đóng góp với sự trân trọng, ngài khuyến khích đào sâu các suy tư thần học, nhưng luôn cương nghị không bao giờ nhượng bộ những gì không phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội về chân lý đức tin. Dĩ nhiên, vì là người cầu toàn và luôn đưa ra những yêu cầu cấp bách cho nên nhiều lúc ngài cũng tỏ ra không hài lòng với cách làm việc của các thành viên trong Uỷ ban, điều đó đôi khi cũng tạo ra sự căng thẳng… Âu cũng vì nhiệt tâm lo lắng cho trách vụ của mình mà ngài chấp nhận những gian nan vất vả của vai trò Chủ tịch Uỷ ban. Nói như Nguyễn Công Trứ: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Quả thật, có gian nan mới hiểu được sự nhiệt tình của các thành viên trong Uỷ ban, có vất vả mới hiểu được tâm tình dành cho Giáo Hội của Đức Tổng Chủ tịch. Đôi khi các thành viên cũng buồn giận Đức Tổng ghê lắm, nhưng “giận thì giận mà thương thì thương”, bởi đối với ngài, ngoài công việc ra, ngài rất yêu quý mọi người. Cho dẫu mang lấy tác phong một nhà thần học, nhưng nơi ngài vẫn thể hiện sự đơn sơ và gần gũi.

Dẫu sao tác phong làm việc của Đức Tổng Chủ tịch cũng nói lên những thao thức và khắc khoải của ngài. Với tư cách một nhà thần học, ngài ước muốn xây dựng cho Giáo hội Việt Nam một nền móng Thần học xứng hợp với sự phát triển của thời đại. Bởi vậy, ngài đã vận dụng mọi cách để cho Uỷ ban Giáo lý Đức tin trở thành nơi chuyển tải mọi tư duy thần học đến với tất cả các thành phần Dân Chúa trong Giáo hội Việt Nam. Ngài khao khát các tài liệu kinh điển của Giáo hội toàn cầu trong tất cả Chủng viện và Học viện thần học tại Việt Nam phải được chuyển ngữ sang tiếng Việt, nhằm giúp cho việc nghiên cứu của các sinh viên được thuận lợi và dễ dàng, từ đó mới mong phát triển nền thần học Việt Nam thoát khỏi tự ti mặc cảm về sự yếu kém của mình. Đức Tổng Phaolô đã từng thổ lộ: “Kinh Thánh phải là linh hồn của giáo lý và thần học phải là nền tảng của giáo lý, vì thế UBGLĐT cần phải suy tư, nghiên cứu và sáng tạo. Trong chiều hướng này, Đức Tổng ước mong có nhiều bài viết và nhiều buổi thuyết trình hơn, để đáp ứng nhu cầu thời đại, nhất là những vấn đề luân lý”[2].

Mặc dầu từ nơi cõi lòng Đức Tổng Phaolô, nỗi khao khát về một tương lai tươi đẹp cho nền thần học Việt Nam luôn cháy bỏng, nhưng ngài vẫn không đủ lực để thay đổi những khó khăn mà Uỷ ban Giáo lý Đức tin đang đối diện: khó khăn về thời giờ, khó khăn về hoàn cảnh sinh hoạt cũng như điều kiện tham gia… Năng lực có đó, lòng nhiệt thành có đó, nhưng những điều kiện thực tế vẫn là vật cản lớn làm cho những ước mong của Đức Tổng Phaolô vẫn mãi là những ước mong. Quả thực là lực bất tòng tâm, những chuyến đi liên tục không mệt mỏi của Đức Tổng Phaolô từ Toà Giám Mục Mỹ Tho về Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo Phận Sài Gòn để tham gia các buổi sinh hoạt định kỳ của Uỷ ban, cũng chỉ in đậm lòng nhiệt huyết và khát vọng của Đức Tổng đối với tương lai của nền thần học Việt nam, cho dẫu hàng năm các thành quả của Uỷ ban Giáo lý Đức tin vẫn được công bố và phổ biến qua các bài nghiên cứu thần học và mục vụ theo các chủ đề được đề nghị, nhưng xem ra vẫn chưa đáp ứng được khát vọng của Đức Tổng Chủ tịch, bởi hoài bão của ngài quả thật lớn lao.

4. Một mùa gặt tràn đầy hy vọng

Nói như thế không có nghĩa là Uỷ ban Giáo lý Đức tin, dưới sự dẫn dắt của Đức Tổng Phaolô bị bế tắc trong công việc của mình. Vì với lòng nhiệt thành và nghị lực sẵn có, Đức Tổng Phaolô nào đâu chịu khoanh tay ngồi yên, ngài tìm đủ mọi phương thế, mời gọi thêm các thành viên vào Uỷ ban, đặc biệt lời mời gọi hướng tới các dòng tu, nơi có thể cung cấp các thành viên có đủ điều kiện để làm việc cho Uỷ ban, không chỉ là dòng tu nam mà ngài còn khích lệ các nữ tu cũng tham gia vào Uỷ ban.

Mọi nỗ lực của Đức Tổng chắc chắn đã không trở nên vô ích. Từ 2010 và sau đó, mỗi năm Uỷ ban đều có thêm thành viên mới, công việc theo đó thêm khởi sắc. Các kế hoạch đề ra được tiến hành hiệu quả hơn, cụ thể, các bản dịch của các Tông huấn liên quan đến Giáo lý Đức tin được phát hành kịp thời để Dân Chúa luôn đón nhận được tài liệu mới mẻ. Các vấn nạn liên quan đến đức tin mang tính thời sự được Uỷ ban nghiên cứu giúp Hội đồng Giám mục kịp thời đưa ra những hướng dẫn cụ thể, nhằm giúp Dân Chúa trưởng thành trong đức tin, chẳng hạn vấn nạn về Sứ điệp từ trời, vấn đề ngoại cảm… Các Đại hội Giáo lý Toàn quốc cũng được Ban Giáo lý tổ chức 3 năm một lần, nhằm hỗ trợ và củng cố hoạt động giáo lý cả nước. Bên cạnh đó là việc biên soạn các tài liệu dạy giáo lý dự tòng, hôn nhân, đặc biệt các thành viên tổ giáo lý đã giúp HĐGM hoàn tất việc biên soạn tài liệu Hướng dẫn tổng quát việc dạy giáo lý tại Việt Nam (2017). Ngoài ra, tổ Giáo lý còn dự kiến biên soạn tài liệu giáo dục giới tính cho thiếu niên. Việc biên soạn này không theo trào lưu xã hội đã làm, cũng không phải là một giáo trình giáo lý tách biệt giáo dục giới tính, nhưng trên hết là giáo dục cho các thanh thiếu niên từng bước trưởng thành nhân cách, sống mối tương quan giới tính đúng đắn theo tinh thần Kitô giáo. Tổ từ vựng cũng đã hiệu đính và hoàn thành cuốn từ điển Công giáo mới với 500 mục từ (2011)…, tất cả những điều đó đã làm cho Đức Tổng Chủ tịch phấn chấn được tỏ lộ trong lời giới thiệu cuốn sách: “Cuốn từ điển Công giáo này là một nỗ lực làm việc tập thể đáng khích lệ của nhiều người muốn phục vụ Hội Thánh trong lãnh vực từ vựng… cuốn sách chứng tỏ khát vọng của mọi người tham gia là thực sự muốn có một công trình có giá trị khoa học”. Lời giới thiệu đã bộc lộ niềm vui và cũng nói lên khát vọng lớn lao của ngài.

Vâng, những vất vả lo toan của Đức Tổng Chủ tịch dầu sao cũng đem lại một số hoa trái cho kho tàng Giáo lý và nghiên cứu thần học tại Việt Nam. Nhiều nghiên cứu thần học tín lý và luân lý vào năm 2017-2018 được công bố, thêm vào danh sách các nghiên cứu đã được phổ biến rộng rãi vào những năm 2005-2016, chẳng hạn: “Sống khiết tịnh ở người trẻ chưa kết hôn: Một nhận định trên phương diện y khoa, thần học luân lý và mục vụ công giáo”, “Tình yêu hôn nhân Kitô, họa ảnh tình yêu hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi”, “Bình đẳng về quyền giữa người nam và người nữ”[3]. Uỷ ban cũng đã cho phát hành các bản dịch: Người trẻ, đức tin và phân định ơn gọi: văn kiện chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục về giới trẻ (2017), Thư của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI gởi Giáo phận Rôma về bổn phận khẩn thiết phải giáo dục các thế hệ trẻ; Đối với các dân tộc Á Châu; Volume 1, Volume 2, Volume 3 FABC; cuốn giáo lý DOCAT, v.v...

Đức Tổng Phaolô hiểu rằng để công việc được thuận lợi cần có sự hiệp thông ngay giữa lòng Uỷ ban Giáo lý Đức tin, ngài đã đề xuất về suy tư và viết bài về chủ đề "Hiệp Thông", với 3 chiều kích: hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông với Giáo Hội và hiệp thông với mọi người[4]. Với gợi ý này, một loạt các bài nghiên cứu được công bố chẳng hạn: “Đề xướng một vài chiều hướng cho giáo lý viên khi khai triển mầu nhiệm Giáo hội-Hiệp thông cho người trẻ”, “Chúa Thánh Thần là Ngôi Vị và là thực tại hiệp thông”, “Nguyên tội và Ân sủng dưới lăng kính của Công Giáo và Tin Lành: Từ việc chống đối nhau vì những khác biệt thần học đến việc nhìn nhận nhau trong sự khác biệt”.  “Thánh Thể: hiệp thông với Đức Kitô và với nhau”. “Sống hiệp thông giữa con người, vũ trụ và Thiên Chúa qua việc bảo vệ môi sinh”. “Đức Maria trong cộng đoàn hiệp thông của Giáo hội”, v.v...

Đức Tổng Phaolô đã gieo hạt mầm hy vọng và lòng nhiệt thành cháy bỏng đến từng thành viên trong Uỷ ban, chắc chắn những hạt mầm đó sẽ tiếp tục đơm bông kết trái hứa hẹn một mùa bội thu trong tương lai. Cuối năm 2013, khi ngài từ giã vai trò chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin để đảm nhận nhiệm vụ lớn lao hơn: Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngài đã để lại cho vị kế nhiệm một “di sản” đáng giá, bao gồm những thành viên nhiệt tình với nhiều thành quả tốt đẹp và nhiều công trình nghiên cứu còn dở dang. Những khó khăn vẫn còn đó, nhưng ngọn lửa nhiệt huyết của Đức Tổng Phaolô thổi vào Ủy ban vẫn đang hừng hực cháy sáng. Rồi đây, hy vọng Giáo Hội Việt Nam sẽ có được một mùa bội thu, là kết quả từ những nỗ lực của Uỷ ban suốt hành trình dài dưới sự dẫn dắt của Đức Tổng Phaolô Chủ tịch.

Bên cạnh những thành quả về công trình nghiên cứu, biên soạn thần học, giáo lý, thiết nghĩ, Đức Tổng Phaolô cũng có thể tự hào và vui mừng vì cho đến nay, Ủy ban đã “cung cấp” cho Giáo hội Việt Nam bốn thành viên ưu tuyển trong hàng Giám mục, đó là Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm (2009), Giám mục giáo phận Mỹ Tho; Đức cha Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn (2016) Giám mục giáo phận Bà Rịa; Đức cha Luy Nguyễn Anh Tuấn (2017), Giám mục phụ tá Đức cố TGM Phaolô, Tổng giáo phận Sài Gòn và Đức cha Giuse Nguyễn Đức Cường (2018), Giám mục giáo phận Thanh Hóa.

Để kết

Đức Tổng Phaolô được Chúa đã gọi về trong khi Ủy ban đang cưu mang một ưu tư mới của ngài: Tập san Thần học và Mục vụ của chính Uỷ ban Giáo lý Đức tin. Ưu tư này đã từng bước được hình thành, để rồi tháng 8.2018, Uỷ ban Giáo lý Đức tin đã ra mắt số đầu tiên với tên gọi chính thức: Logos - Suy tư thần học và mục vụ, số 01: "Giáo lý viên, con người hiệp thông", trong đó có một bài của ngài với tựa đề: Đào tạo Giáo lý viên: chứng nhân niềm vui Tin Mừng. Tập san nhanh chóng được cộng đồng Dân Chúa hân hoan đón nhận[5].

“Hạt lúa mì Phaolô Bùi Văn Đọc - Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin”, với những thao thức, khát khao cháy bỏng cho sự phát triển nền thần học Việt Nam, đã được gieo vào lòng đất. Là những thành viên của Uỷ ban Giáo lý Đức tin, chúng tôi tin rằng, hạt giống đã gieo, nhờ tác động của Thánh Thần, sẽ nảy mầm, sinh hoa, kết trái không chỉ trong mảnh đất của Ủy ban Giáo lý Đức tin mà còn nơi toàn Dân Chúa của Giáo hội tại Việt Nam.

 

Lm. Antôn Hà văn Minh

Giáo phận Phú Cường

Thành viên UBGLĐT

 

 


[1] http://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/ub-giao-ly-duc-tin-31431.

[2]  x. Biên bản cuộc họp ngày 5.4.2017 của Uỷ ban Giáo lý Đức tin.

[3] x. Hiệp Thông, Bản tin của HĐGMVN, số 101 (tháng 7 & 8 năm 2017).

[4] x. Biên bản cuộc họp UBGLĐT, ngày 17.10.2017.

[5] ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Logos - Suy tư thần học và mục vụ, số 01: "Giáo lý viên, con người hiệp thông", Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 8.2018.

 

Tác giả: M. Antôn Hà Văn Minh - thành viên Ủy ban Giáo lý Đức tin
Tag:

Các tin đã đưa ngày: